Tổng hợp các
phương pháp tiệt trùng dụng cụ, vật tư y tế, vi sinh đúng chuẩn
Tổng quan về các
phương pháp tiệt trùng dụng cụ vật tư y tế
Phương pháp tiệt trùng được
ứng dụng rộng rãi và rất cần thiết trong phân tích thí nghiệm : Dược
phẩm, hóa chất, vi sinh, y tế…Đây là sự phá hủy hoàn toàn và loại bỏ tất cả
các vi sinh vật (bao gồm các bào tử và vi khuẩn không tạo thành bào tử, virus,
nấm mốc, động vật nguyên sinh) Chúng có thể gây ô nhiễm các mẫu , dược phẩm
hoặc các vật liệu khác mà gây nguy hại cho sức khỏe con người.
Hiệu quả quá trình tiệt
trùng phụ thuộc vào bản chất của sản phẩm, mức độ nhiễm vi khuẩn và
các điều kiện nhiệt độ , thời gian tiệt trùng. Kỹ thuật khử trùng cổ điện sự
dụng áp lực hơi nước bão hòa, đây là phương pháp tin cậy và có thể được sự dụng
phổ biến nhất. Hiện nay, với công nghệ tiên tiến nồi hấp tiệt trùng được sản xuất ra tích
hợp nhiều tính năng vượt trội, mức độ an toàn cao và dễ dàng sự dụng.
Ngoài ra, còn có các
phương pháp tiệt trùng khác như: Lọc, bức xạ ion hóa ( tia gamma, electron) và
khí đốt (ethylene, formaldehyde).
Đối với các sản phẩm
mà không thể tiệt trùng trong các hộp đựng thì quá trình vô trùng là rất cần
thiết. Vật liệu và sản phẩm đó được tiệt trùng bằng cách chuyển vào các bình
đựng đã được khử trùng trước và niêm phong lại và sau đo tiền hành khử trùng
bình thường.
Lựa chọn bất cứ phương
pháp tiệt trùng nào cũng phải tuân theo các quy định và yếu tố về loại
sản phẩm đó để đảm bảo trong quá trình vô trùng không có sự thay đổi bất lợi
nào xảy ra. Việc không tuân theo các quy định này, sẽ dẫn tới việc hư hỏng mẫu.
Chương trình điển hình như tiệt trùng hơi nước hoặc khử trùng khô nhiệt đòi hỏi
sự tương quan về nhiệt độ, áp suất được thực hiện đo lường bởi các cảm biến
tích hợp trong Nồi hấp tiệt trùng. Lựa chọn thời gian và nhiệt độ tiệt trùng
tùy vào yếu tố bản chất của sản phẩm đó.
Gia nhiệt trong nồi
hấp tiệt trùng (Tiệt trùng hơi nước)
Các vi sinh vật được
tiếp xúc với hơi nước bão hòa sẽ làm chúng bị tiêu diệt hoàn toàn do sự biến
tính đảo ngược của các enzyme và cấu trúc protein. Tiệt trùng hơi nước bão hòa
đòi hỏi phải kiểm soát chính xác về thời gian, nhiệt độ và áp suất. Phương pháp
này được ứng dụng nhiều trong tiệt trùng dụng cụ, vật tư y tế.
Thông số để nghị sự
dụng trong nồi hấp tiệt trùng là: 121 độ C trong
vòng 15 phút (200kPa). Nhiệt độ dùng để kiểm soát quá trình còn áp suất để tạo
ra nhiệt độ hơi nước theo yêu cầu (áp suất càng lớn thì nhiệt độ càng lớn)
|
Nhiệt đô oC
|
Khoảng áp suất kPa
|
Thời gian tiệt trùng tối tiểu
|
|
126-129
|
250 (~2.5 atm)
|
10 phút
|
|
134-138
|
300 (~3.0 atm)
|
5 phút
|
Dung dịch trong lọ
thủy tinh thường đạt trạng thái cân bằng nhiệt trong vòng 10 phút đối với khối
lượng 100ml và 20 phút đối với 1000 ml.Thời gian tiệt trùng
tối thiểu được tính từ thời điểm tất các các vật liệu trong buồng đạt đến
nhiệt độ yêu cầu. Việc giám sát các điều kiện vật lý trong nồi hấp tiệt trùng
là rất quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng thành phẩm và an toàn cho thiết bị,
con người.
Các mẫu xốp như: băng phẫu thuật… nên được sử
lý để đảm bảo nhiệt độ và hơi nước tiệt trùng thâm nhập vào trong mẫu. Hầu hết
các băng gạc được tiệt trùng hoàn toàn bằng cách duy trình chúng ở nhiệt độ
134-138 độ C trong 5 phút.
Trong những trường hợp
nhất định, thủy tinh, sứ, hoặc các sản phẩm kim loại được khử trùng ở 121-124
độ C trong vòng 20 phút
Chất béo, dầu có thể
được tiệt trùng ở 121 độ C trong 2 giờ, và nếu có thể nên được khử trùng bằng
nhiệt khô.
Trong một số trường
hợp (ví dụ như: chất thermolabile) việc tiệt trùng có thể ở dưới 121 độ C với
điều kiện là sự kết hợp chọn thời gian và nhiệt độ đã được xác nhận. Bạn nên
tìm hiểu trước về phương pháp tiệt trùng cho những chất này.
Hiện nay, trên thị
trường được thịnh hành rất nhiều dòng sản phẩm nồi hấp tiệt trùng có xuất xứ
khác nhau như: Mỹ, EU, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung quốc…. Điểm chung
của các thiết bị này là đều hoạt động theo một nguyên tắc ở trên.
Nồi hấp tiệt trùng để
bàn HungYi
– Đài Loan được sản xuất và thiết kế với các thể tích đa dạng phụ vụ
cho hầu hết các PTN lớn nhỏ, tùy nhu cầu với thể tích từ: 16.2 lít đến 50.06
lít ( thể tích chính xác).
- Được làm hoàn toàn
bằng thép không gỉ SUS #304, vận hành dễ dàng, an toàn cho người sử dụng
- Cơ
cấu an toàn tự động ngắt điện khi điện trở bị quá nhiệt do thiếu nước, có chế
độ làm khô. Có chuông báo và nguồn điện tự động tắt khi quá trình kết thúc.
- Kích thước buồng: ø230 mm x410 mm
- Thể tích: ~17.03 Lít
- Kích thước ngoài: 485 x 485 x 400 mm (L x W
x H)
- Nguồn điện: 220V/10A/15A
- Công suất: 1500W/2000W
- Nhiệt độ tiệt trùng: Thấp nhất 121°C, Cao
nhất 135°C
- Áp suất: cao nhất 2.1 kg/cm²
- Cơ cấu an toàn với van xả và van xả khẩn
cấp.
- Cung cấp kèm theo lồng hấp tiệt trùng bằng
thép không gỉ.
Phương pháp Tiệt trùng
khô nhiệt
Trong quá trình tiệt
trùng gia nhiệt khô được coi là quá trình oxy hóa của các thành phần tế bào.
Việc này đòi hỏi nhiệt độ cao hơn nhiệt ẩm và thời gian phơi sáng lâu hơn.
Phương pháp này, thuận tiện hơn cho vật liệu không chứa nước mà không thể tiệt
trùng bằng hơi nước (do tác hại của hơi nước sẽ làm hỏng các vật liệu) ví dụ
như: thủy tinh, bột, dầu và một số thuốc tiêm dầu. Có thể sự dụng Tủ sấy thông dụng để tiệt trùng.
Các chế phẩm được khử
trùng bằng nhiệt khô được làm đầy trong bình chứa cho vào thiết bị với
thông số được đưa ra trong bảng dưới đây.
|
Nhiệt độ tiệt trùng tối
thiệu oC
|
Thời gian tiệt trùng (phút)
|
|
160
|
180
|
|
170
|
60
|
|
180
|
30
|
Thiết bị tiệt trùng
khô nhiệt được trang bị
với một hệ thống lưu thông khí phải đảm bảo phân bố nhiệt đồng đều trong tất cả
các sản phẩm.Các điều kiện cụ thể
của nhiệt độ và thời gian cho việc tiệt trùng được nêu chi tiết trong các tài
liệu chuyên môn.
Với chỉ thị sinh học
đề nghị xác nhận của quá trình khử trùng là: (. Ví dụ: var niger ATCC 9372 hoặc
CIP 77,18) bào tử của vi khuẩn Bacillus subtilis mà giá trị tiệt trùng khô là
5-10 phút ở 160 ° C sử dụng khoảng 106 bào tử trên mỗi chỉ thị.
Phương pháp lọc
Tiệt trùng bằng cách
lọc được sử dụng chủ yếu cho các giải pháp dung dịch không chịu nhiệt. Chúng có
thể được khử trùng bằng cách đi qua bộ lọc vi khuẩn chắn vô trùng, ví dụ: màng
lọc (dẫn xuất cellulose…) nhựa, gốm xốp, hoặc các bộ lọc thủy tinh kết dính
thích hợp. Bộ lọc chứa amiang không nên được sự dụng vì gây nguy hại môi
trường.
Biện pháp thích hợp
nên được thực hiện để tránh mất chất bằng cách hấp phụ lên các bộ lọc ,
ngăn chặn việc phát tán các chất ô nhiễm từ các bộ lọc. Bộ lọc phù hợp sẽ ngăn
chặn sự di chuyển của các vi khuẩn , vi sinh vật và đi qua dung dịch khử trùng
sau đó cho vào các thùng chứa ngay lập tức để chống nhiễm khuẩn trở lại.
Thông thường, Kích
thước lỗ màng không lớn hơn 0.22 micro nên được sử dụng. Tất cả các bộ lọc, ống
và thiết bị sử dụng phải được tiệt trùng trước. Bộ lọc có khả năng chịu nhiệt
được tiệt trùng khi sự dụng nồi hấp ở 121 đô C và trong 15-45 phút tùy thuộc
vào kích thước của bộ lọc.
Phương pháp tiệt trùng
tiếp xúc và bức xạ ion hóa
Khử trùng các sản phẩm
thuốc, thiết bị phòng thí nghiệm, y tế trong bình
chứa hoặc các sản phẩm đóng gói bằng cách tiếp xúc với bức xạ ion hóa dưới dạng
bức xạ gamma từ một nguồn đồng vị phóng xạ thích hợp như 60 Co (cobalt 60) hoặc
của các điện tử năng lượng bởi một máy gia tốc electron phù hợp.
Bức xạ gamma và
electron được sự dụng để thực hiện ion hóa các phân tử trong sinh vật. Do đó,
các đột biến được hình thành trong DNA và phản ứng này làm thay đối nhân rộng.
Quá trình này rất nguy hiểm và chỉ được đào tạo với nhân viên giàu kinh nghiệm.
Phương pháp tiệt trùng
bằng khí
Các tác nhân tích cực
của quá trình khử trùng bằng khí là ethylene oxide hoặc một chất rất dễ bay
hơi. Bản chất của nó là dễ cháy vì vậy chúng được trộn với các loại khí trơ phù
hợp để giảm bớt độc tính .
Toàn bộ quá trình rất
khó để kiểm soát vì vậy nên xem xét nếu không thể sự dụng các phương pháp tiệt
trùng khác. Nó chỉ được thực hiện dưới sự giám sát của các nhân viên có tay
nghề cao.
Hiệu quả tiệt trùng
của ethylene oxide phụ thuộc vào nồng độ của khí, độ ẩm, thời gian tiếp xúc,
nhiệt độ và bản chất của sản phẩm. Điều kiện khử trùng thích hợp phải được xác
định bằng thực nghiệm đối với từng loại.
Sau khi khử trùng,
việc loại bỏ các dự lượng khí dễ bay hơi theo thời gian, cần khẳng định việc
này qua các xét nghiệm cụ thể.




